Khái niệm về tính động Tính động được định nghĩa là khả năng thay đổi, thêm, bớt các thông số đầu vào và khả năng thay đổi, thêm, bớt các thông số đầu ra theo các yêu cầu quản trị hay nói cách khác là khả năng biến hoá của chương trình nhằm phù hợp với các yêu cầu quản trị, yêu cầu đặc thù trong các giai đoạn khác nhau. Thực tế, với hơn 1500 doanh nghiệp đang sử dụng chứng minh tính động của EFFECT .
Sự cần thiết phải có tính động của phần mềm kế toán Kế toán phục vụ cho quản trị kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho nhu cầu quản lý của các cơ quan hữu quan. Trong khi đó: - Tình trạng kinh doanh luôn biến động: Thay đổi về qui mô, về ngành nghề, về loại hình, về cách thức quản lý, về cách thức kinh doanh, về mô hình kinh doanh, về cách thức hạch toán, về cách thức lãnh đạo... do đó kéo theo hạch toán kế toán cũng phải thay đổi để phù hợp với tình hình mới. - Nhu cầu về quản lý nhà nước như về tài chính kế toán, thuế, ngân hàng, thị trường chứng khoán, ... luôn phải thay đổi để phù hợp với tình hình mới, do đó hạch toán kế toán cũng phải thay đổi. (Ví dụ: VAT, QĐ 15 BTC, mẫu biểu mới của ngành chủ quản, bổ sung hệ thống tài khoản mới, ...). Như vậy: Với phần mềm tĩnh cần lập trình lại, thậm chí phải thay mới. Với phần mềm động chỉ cần lựa chọn cách thức áp dụng mới ngay trên chương trình, chi phí đầu tư bỏ ra được cắt giảm đáng kể.
Sự vượt ra ngoài khuôn khổ của một chương trình kế toán Với tính động, EFFECT ngoài tính chất là một phần mềm kế toán hoàn thiện còn là một phần mềm dùng cho quản trị kinh doanh, một phần mềm dùng cho phân tích tài chính. Rất nhiều báo cáo mang tính thống kê, có nguồn gốc số liệu kế toán nhưng mục đích chủ yếu dùng cho quản trị kinh doanh. Các chu kỳ kế toán, mục đích kế toán không trùng với chu kỳ kinh doanh, mục đích kinh doanh nhưng với và chỉ với phần mềm động mới có thể đưa ra báo cáo mà không cần lập trình lại. Quản trị xuôi Từ tất cả các phát sinh kinh tế, người dùng lập tức có thể tập hợp dữ liệu theo các thông số cần quan tâm (Các báo cáo quản trị ). Nếu thông số quan tâm là tài khoản thì đó là hệ thống kế toán. Nếu thông số quan tâm là khách hàng, hay sản phẩm hay bộ phận, hay loại tiền tệ, hay thời gian ... hay bất kỳ thông số nào khác thì đó là hệ thống quản trị kinh doanh. Và đây chính là công cụ để các nhà kinh doanh sáng tạo, ngắm nhìn tình trạng kinh doanh từ nhiều khía cạnh. Các loại báo cáo nhanh và theo cách tư duy của nhà kinh doanh cũng từ đây mà ra. Quản trị ngược Visual EFFECT có thể cho phép truy cập trực tiếp từ từng yếu tố của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán, báo cáo quản trị tới tận các số liệu đầu tiên (chứng từ gốc) hình thành nên báo cáo. Điều này cực kỳ quan trọng cho những người muốn mổ xẻ, xem xét, liên kết tính logic của dữ liệu. Sự đơn giản trong thao tác để có được các thông tin dạng này dễ làm các nhà quản trị lãng quên mất 2 đặc tính vô cùng quý giá và khó thấy ở phần mềm khác. Việc xem các loại báo cáo do chương trình in ra là thói quen cũ. Nếu dùng quản trị ngược hoặc quản trị xuôi ngay trên chương trình cho ta một cách xem xét thông tin ở trạng thái sống và chúng ta nhìn thấy được cả sự vận động của số liệu báo cáo. Và đó là biểu hiện sự thay đổi về chất khi áp dụng công nghệ thông tin. Quản trị theo kế hoạch EFFECT cho người dùng nhập các dữ liệu mang tính kế hoạch, tính mục đích và chúng ta có các loại báo cáo kế toán quản trị, tài chính so sánh đánh giá giữa thực tế thực hiện với kế hoạch. Và phát huy đặc tính này chỉ còn tuỳ thuộc vào nhà quản trị đặt ra các chỉ tiêu kế hoạch mà thôi.
Bảng so sánh phần mềm tĩnh và động | STT | Phần mềm kế toán tĩnh | Phần mềm kế toán động | 1 | Bản chất: Mô tả một số trạng thái rời rạc của quá trình hạch toán kế toán. | Bản chất: Tạo lập nguyên lý để tổ hợp nên toàn bộ các trạng thái của quá trình hạch toán kế toán.
| 2 | Kích thước chương trình thường lớn (gấp 4 -10 lần chương trình động). | Kích thước chương trình nhỏ hơn nhiều.
| 3 | Chỉ dùng một ngôn ngữ để lập trình. | Phối hợp đồng thời nhiều ngôn ngữ để lập trình.
| 4 | Các phần hành kế toán liên kết rời rạc với nhau. Có những dữ liệu phải nhập nhiều lần, tại nhiều nơi trong chương trình. | Toàn bộ chương trình là một thể thống nhất, chứa đựng tất cả các phần hành kế toán. Dữ liệu chỉ nhập một lần.
| 5 | Bắt buộc phải có module kế toán tổng hợp thì mới có được một số báo cáo cần thiết. | Không cần có module kế toán tổng hợp vẫn làm được kế toán tổng hợp.
| 6 | Không thể có một màn hình nhập liệu duy nhất và cũng không bao hàm được toàn bộ các loại chứng từ. | Chỉ có một màn hình nhập liệu duy nhất, bao hàm toàn bộ các loại chứng từ có thể có.
| 7 | Không có màn hình tạo lập báo cáo cho người dùng. Các báo cáo được người lập trình tạo sẵn cả về nội dung lẫn hình thức. | Có màn hình tạo lập báo cáo cho người dùng (tạo lập về các loại thông số cần dùng, cách thức lấy dữ liệu, chế biến và xử lý thông tin, tạo hình thức...).
| 8 | Rất khó, thậm chí không thể có các loại báo cáo quản trị, báo cáo có cấu trúc nhằm hỗ trợ quyết định kinh doanh, phân tích tình hình tài chính. | Dễ dàng tạo ra tất cả các báo cáo kế toán, quản trị, tài chính có thể có. Không những vậy, các báo cáo còn có thể được xắp xếp và đo lường bằng loại đơn vị theo ý muốn của người sử dụng.
| 9 | Không thể áp dụng khi hệ thống kế toán thay đổi. | Có thể áp dụng cho cả hệ thống kế toán Việt nam và hệ thống kế toán quốc tế.
|
|