Untitled Document
 
 
 
 
 

Untitled Document
Trang chủ Diễn đàn Báo chí Giới thiệu Liên hệ
• Visual EFFECT SQL 3.0

(Xem các chức năng Visual EFFECT 2.0 và Visual EFFECT SQL 3.0)

Client-Server hay cơ chế Khách-Chủ, điểm mấu chốt trong Visual EFFECT SQL 30.

Client Server là cơ chế mà các máy trạm (Workstation hay Client) có thể yêu cầu dịch vụ từ máy chủ (Server).Các yêu cầu này có thể là: Cung cấp dữ liệu, tính toán, xử lý dữ liệu, thực hiện bài toán...

Client Server là cơ chế mà các máy trạm (Workstation hay Client) có thể yêu cầu dịch vụ từ máy chủ (Server).Các yêu cầu này có thể là: Cung cấp dữ liệu, tính toán, xử lý dữ liệu, thực hiện bài toán...

Một trong những điểm hạn chế của cơ chế File Server (máy chủ cung cấp dịch vụ tệp) là luôn luôn chuyển dữ liệu về máy trạm và tất cả việc tính toán, xử lý dữ liệu đều thực hiện trên máy trạm, do đó nếu các máy trạm không đủ mạnh thì sẽ không đảm bảo tốc độ tính toán. Mặt khác, giao thông trên mạng rất lớn dẫn đến tốc độ chuyển dữ liệu có thể bị “nghẽn” và vì vậy cơ chế File Server không hỗ trợ được cho mô hình lớn có hàng trăm người sử dụng.

Với Client Server, máy chủ cũng hỗ trợ cung cấp dữ liệu cho máy trạm nhưng ở các mức khác nhau: Dữ liệu hoàn toàn chi tiết như File Server hoặc dữ liệu đã qua xử lý hoặc hoàn thành cả một bài toán nghiệp vụ phức tạp và trả về máy trạm kết quả. Trong trường hợp máy trạm không tính toán mà chỉ hiển thị (giao diện với người dùng) thì gọi là Thin Client, trong trường hợp máy trạm cũng tính toán thì gọi là Thick Client. Thick Client có ưu điểm là tận dụng được năng lực tính toán của cả máy chủ và máy trạm. Phần mềm kế toán, quản trị doanh nghiệp là một chương trình phức tạp đòi hỏi năng lực tính toán rất lớn của hệ thống phần cứng và sự năng động lớn của chương trình, vì vậy EFFECT chọn phương án Thick Client. Dữ liệu chính được lưu trữ trên Server. Các tính toán trên dữ liệu lớn được thực hiện trên Server và trả kết quả cho máy trạm (khoảng 90% tổng tính toán). Các tính toán đơn giản mang tính cục bộ được thực hiện trên máy trạm (khoảng 10% tổng tính toán). Giao thông trên mạng được giảm nhiều lần so với cơ chế File Server và vì vậy hệ thống có thể chạy hàng trăm máy trạm đồng thời trên mạng nội bộ nếu máy chủ đủ mạnh.

Tất cả các tính năng trong Visual EFFECT 2.0 đều có mặt và nhiều tính năng được cải tiến

Visual EFFECT 2.0 chạy theo mô hình File Server. Bằng cách mô phỏng cơ chế Cluster Index của Microsoft SQL Server, Visual EFFECT 2.0 thực hiện lưu trữ dữ liệu theo kiểu chia tách (Separate data) nhằm đạt được mục đích: Tại một thời điểm luôn tính toán với một bảng (Table) nhỏ và Chỉ đọc từ Server những dữ liệu vừa đủ. Cùng với cơ chế khoá sổ dữ liệu tại một tháng bất kỳ, Visual EFFECT 2.0 đã đáp ứng được hầu hết các doanh nghiệp có từ 50 người sử dụng (đồng thời trên mạng nội bộ) trở xuống. Tuy nhiên, với những ưu điểm của mô hình Client Server nói trên và những ưu việt của cơ sở dữ liệu Mỉcrosoft SQL Server, chúng tôi vẫn nỗ lực để phát hành phiên bản SQL Server để phục vụ các doanh nghiệp lớn và rất lớn.Tất cả các tính năng trong Visual EFFECT 2.0 đều có mặt trong Visual EFFECT SQL 3.0. Đặc biệt, một số tính năng được bổ sung như: REPORTBASE (Cơ sở dữ liệu báo cáo), MONITORING (Giám sát thông tin) sẽ là công cụ đắc lực thêm cho các nhà quản trị.

Về mặt giao diện, hầu hết các màn hình giao diện được giữ nguyên trừ màn hình nhập liệu được cải tiến. Thay cho cơ chế “Mờ-Rõ” các Object trên màn hình theo Loại chứng từ là cơ chế “Ẩn-hiện” kết hợp với “Mờ-Rõ”. Mục đích của cải tiến này là ẩn đi những phức tạp đối với những nghiệp vụ đơn giản. Tạo cho EFFECT một giao diện “thông minh hơn” và “tối ưu hơn” đối với người dùng. Màn hình nhập liệu duy nhất của EFFECT là giao diện được sử dụng trên 50% trong suốt quá trình sử dụng chương trình. Vì vậy đây là một cải tiến đáng kể làm cho EFFECT có thể đơn giản hơn cả những phần mềm “đơn giản” khác đang có mặt trên thị trường.

Trong mô hình ba lớp (Tree Layers): Cơ sở dữ liệu - Nghiệp vụ - Giao diện, Visual EFFECT SQL 3.0 cải tiến ở lớp Cơ sở dữ liệu và giao tiếp giữa lớp Cơ sở dữ liệu và lớp Nghiệp vụ. Vì vậy, các nghiệp vụ về hạch toán kế toán, tạo sổ sách, báo cáo... được giữ nguyên từ Visual EFFECT 2.0 và đã được kiểm nghiệm thông qua hàng trăm khách hàng đang sử dụng Visual EFFECT 2.0 trong đó số lượng rất lớn được nâng cấp từ phiên bản EFFECT 2000.

Visual EFFECT SQL 3.0 và EFFECT-ERP

Tính động của EFFECT đã giúp cho nhiều khách hàng có được các modul quản trị không liên quan đến hạch toán kế toán như: Quản lý đơn đặt hàng, Quản lý hàng cho mượn, hàng bảo hành, Theo dõi giao dịch hợp đồng, hồ sơ thầu, Quản trị bán hàng, Lập kế hoạch dự trù vật tư, Quyết toán vật tư cho sản xuất, Quản trị sản xuất, Tính giá thành sản phẩm kế hoạch theo định mức vật tư và giá cả vật tư trên thị trường, Quản lý hạn mức chi phí theo khoản mục... Các Modul này đang được tích hợp vào một phiên bản kế tiếp của EFFECT gọi là EFFECT-ERP (EFFECT-Enterprise Resource Planning). EFFECT-ERP được xây dựng theo cách tổng quát hoá các yêu cầu trên thị trường thành các “Cơ chế” theo nguyên tắc “Động” và cập nhật vào các Modul của EFFECT-ERP. Visual EFFECT SQL 3.0 là phiên bản sau nhất của EFFECT-Customize khi áp dụng ở các doanh nghiệp lớn sẽ là tiền đề cho việc nâng cấp thành hệ thống EFFECT-ERP, quản lý tổng thể doanh nghiệp.

Untitled Document
Untitled Document
Tên  
Mật khẩu  
   
Untitled Document
Bitcup 2009 - một lần nữa EFFECT đạt cúp vàng về ERP
Bitcup 2008, EFFECT đoạt 2 cúp vàng trong số 5 lĩnh vực bình chọn...
Công ty Minh Nam chọn EFFECT-ERP
Digiworld chọn 03 modules EFFECT-ERP
Công ty may Việt Tiến lựa chọn Visual EFFECT SQL 3.0
Công ty Du lịch Phú thọ nâng cấp PMKT lên Visual EFFECT SQL 3.0
EFFFCT dành được các thứ hạng cao tại BitCup 2006
Công ty XNK Vĩnh Long chọn EFFECT-ERP...
Triển khai thành công EFFECT-ERP tại...
EFFECT ERP - Giải nhất BitCup - 2005